Theo tổ chức y tế thế giới [url=http://benhtanghuyetap.vn/bai-viet/phuong-phap-dieu-tri/nghien-cuu-tac-dung-nattospes-doi-voi-tai-bien-mach-mau-nao.html][b]tai bien mach mau nao[/b][/url](đột quỵ não) đứng thứ 2 sau bệnh tim gây tử vong cao. Những người thoát khỏi tử vong thường để lại di chứng nặng nề cả về tâm hồn và thể xác và lầ gánh nặng cho gia đình xã hội. Do đó cấp cứu và điều trị đột quỵ phải đạt được mục đích không gây tử vong và không tàn phế. Có 2 thể đột quỵ não:


- Đột quỵ thiếu máu não:Là dạng phổ biến của đột quỵ, xảy ra khi mạch máu cung cấp cho não bị tắc bởi cục máu đông, huyết khối, hẹp vữa xơ động mạch…
- Đột quỵ chảy máu não: Ít phổ biến hơn, xảy ra khi mạch máu bị vỡ, máu chảy vào trong não hoặc xung quanh não.


[img]https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSWEtTzX8YdBYWAnuEt_cviZ9J0RyozsdLVPYGyjBnGuh6qMeW-[/img]


Đột quỵ rất nguy hiểm


[b]Điều trị chống đông:[/b] dùng thuốc chống đông là làm giảm sự tạo thành thrombin và giảm cục máu đông giàu fibrin trong [url=http://benhtanghuyetap.vn/bai-viet/thong-tin-benh/tieng-on-may-bay-tang-nguy-co-dot-quy.html][b]dot quy[/b][/url] cấp tính, không có hiệu quả trên fibrinogen và độ nhớt máu. Tiêu biểu có các loại thuốc sau:
- Heparin, heparin trọng lượng phân tử thấp (điều trị giai đoạn cấp, bán cấp).
- Warfarin, coumadin, lovenox... điều trị dự phòng, tiêm dưới da.


[b]Điều trị tiêu cục huyết:[/b] Làm giảm fibrinogen do khi đưa vào tĩnh mạch sẽ biến đổi plasminogen thành plasmin, plasmin có khả năng thủy phân fibrin, fibrinogen và các protein đông huyết tương khác làm tiêu cục huyết khối gây tắc mạch nguyên phát hoặc thứ phát. Việc sử dụng các loại thuốc này đòi hỏi bệnh nhân đến viện sớm trước 3 – 6 giờ và tuân theo những chỉ định rất chặt chẽ được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên sâu có phương tiện theo dõi các xét nghiệm tin cậy phòng tai biến chảy máu ồ ạt.


[b]Điều trị đặc hiệu[/b]: Các tác nhân làm giảm kết tập tiểu cầu, làm giảm sự lan rộng của huyết khối động mạch (tiêu biểu là aspirin). Là thuốc cơ bản để điều trị dự phòng và điều trị tắc mạch, nhưng có khả năng làm tăng [url=http://tvsuckhoe24h.blogspot.com/2014/05/ca-phe-giup-giam-nguy-co-ot-quy.html][b]nguy cơ chảy máu não[/b][/url] và không có hiệu quả trên fibrinogen hoặc độ nhớt máu. Dùng thuốc ticlopidin vẫn có nguy cơ chảy máu và có tác dụng lên fibrinogen khoảng 10%, dùng thuốc clopidogrel, nếu dùng aspirin + dipyridamol có hiệu quả tương tự clopidogrel.


[b]Điều trị tổng hợp:[/b] Vấn đề tuần hoàn máu là quan trọng đầu tiên, ở vùng này, mạch máu giãn tối đa do cơ chế bảo vệ tự động (thành mạch mất chức năng do thiếu ôxy, nhiễm toan). Bởi vậy, chỉ số bơm máu lên não phụ thuộc vào huyết áp động mạch. Nếu huyết áp bị hạ đột ngột hoặc bị hạ nhiều sẽ gây giảm áp lực bơm máu vùng tranh tối - tranh sáng, gây chết tế bào vĩnh viễn. Do vậy, huyết áp nên giữ ở mức cao hợp lý, đồng thời cần tìm và giải quyết nguyên nhân gây hạ huyết áp:
- Loại bỏ sự mất nước
- Điều trị suy thất trái, thiếu máu.
- Ngừng, giảm các thuốc có thể là nguyên nhân gây hạ huyết áp
- Bù đủ khối lượng dịch, máu căn cứ theo các xét nghiệm.
Phù não xuất hiện 3 giờ sau khi tắc mạch và tiến tới tối đa trong 24 giờ, tồn tại và lan tỏa trong 72 giờ. chống phù não tích cực bao gồm:
- Kê đầu giường cao đạt độ dốc 25-30 độ, hạn chế kích thích, hạn chế dịch truyền, tăng thông khí, PCO2 đạt 25-35 mmHg (ngay lập tức), phẫu thuật giảm ép, dẫn lưu.
- Dùng thuốc: manitol 20%, tiêm tĩnh mạch chậm (dùng ngay sau 30 phút) trong 5-30 phút, nhắc lại sau mỗi 2-6 giờ, glyxerol 40%, mỗi 4 - 6 giờ, dùng sau khởi phát 8 - 12 giờ, dùng toàn bộ 24 - 48 giờ, thuốc lợi tiểu (furosemid) có thể cho với các tác nhân tăng thẩm thấu nhất là suy tim. Không dùng glucoza dưới bất cứ hình thức nào trong đột quỵ, nên giữ glucoza máu ở mức < 160mg% hoặc 5,5 mmol/lít.
- Cần cho thở ôxy và làm thông thoáng đường thở. Giảm thân nhiệt sẽ làm giảm nhu cầu chuyển hóa các nơron, tăng sức chịu đựng của nơron với sự giảm ôxy tới 20 - 30%. Nên giữ nhiệt độ phòng khoảng 22 - 26oC. Nuôi dưỡng qua đường sonde dạ dày bằng các chất dinh dưỡng lỏng, giúp tăng cường chuyển hóa cơ thể, tránh viêm dạ dày, ruột.