Đằng sau hành động ngang ngược đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào Biển Đông là chủ nghĩa bành trướng, bá quyền thâm căn cố đế của Bắc Kinh.

Bất chấp tuyên bố chung giữa lãnh đạo Việt - Trung còn chưa ráo mực và những quy định của luật pháp quốc tế về luật biển, Trung Quốc đã ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.


Giàn khoan Hải Dương 981 Trung Quốc hiện diện trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Gốc rễ của vụ việc này là chủ nghĩa bành trướng, bá quyền thâm căn cố đế của Bắc Kinh. Chủ nghĩa này có nguồn gốc sâu xa từ trong lịch sử và đã trở thành một thứ "truyền thống" cho đến ngày nay. Tất cả các triều đại phong kiến Trung Quốc, sau khi giành được chính quyền và củng cố được quyền lực đều mở chiến tranh xâm lược các nước xung quanh.

Trong khi chưa thực hiện được chiến tranh xâm lược thì dùng chính sách xâm nhập lấn dần bằng quan hệ hữu nghị và mở rộng di dân qua biên giới.


Tàu Trung Quốc hung hăng trên Biển Đông, phun vòi rồng vào tàu Việt Nam.

Dưới thời nước Trung Hoa mới, chủ nghĩa bành trướng, bá quyền không giảm đi mà càng phát triển một cách có chủ trương, kế hoạch.

Tháng 8/1958, tại Hội nghị Quân ủy Trung ương, nhà lãnh đạo Trung Quốc đánh giá: "Thật ra, Thái Bình Dương ngày nay không lấy gì làm 'thái bình' cho lắm. Trong tương lai khi nó chịu sự kiểm soát của chúng ta thì mới có thể coi là thái bình".

Tháng 9/1959: "Chúng ta phải chinh phục toàn thế giới. Mục tiêu của chúng ta là toàn bộ hành tinh này và trên đó chúng ta sẽ xây dựng một siêu cường vô địch".

Tháng 8/1968: "Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á… Một vùng như Đông Nam Á… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy. Khi chúng ta giành được Đông Nam Á, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây".

Mở rộng bờ cõi bằng... bản đồ

Một trong những thủ đoạn chủ nghĩa bành trướng, bá quyền Trung Quốc thường dùng là tự ý vẽ lại đường biên giới lấn sang nước khác rồi đưa ra các luận điểm: Đường biên giới đã được thỏa thuận trước đây là không công bằng, nó được ký kết trong điều kiện triều đình Trung Quốc suy yếu, nó là sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc...

Năm 1954, Trung Quốc xuất bản cuốn Lịch sử tóm tắt nước Trung Hoa hiện đại với một bản đồ lãnh thổ Trung Quốc mới.

Theo bản đồ này, yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc đối với các nước xung quanh lên tới 3,2 triệu km2. Nếu tính cả các vùng biển, đảo thì lên tới 10,5 triệu km2. Trong đó, phần đất của Liên Xô là 1,6 triệu km2, Ấn Độ 130.000 km2, Myanmar 70.000 km2, Pakistan 7.500 km2…

Ngày 6/5/2009, Trung Quốc trình tấm bản đồ "đường lưỡi bò" trên Biển Đông lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc.

"Đường lưỡi bò" này chiếm khoảng 75% diện tích mặt nước của Biển Đông, bao trọn quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa của Việt Nam và bãi ngầm Macclesfield, chỉ còn lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%.

Từ đó, quốc gia bị vẽ lấn đất sẽ phản đối. Trung Quốc bèn nêu ra đó là "vùng lãnh thổ tranh chấp", "vùng biển tranh chấp" và đề nghị hiệp thương giải quyết sao cho "hai bên cùng có lợi".

Khi vào hiệp thương, Trung Quốc dùng mọi cách gây sức ép, uy hiếp, mua chuộc… và bao giờ Trung Quốc cũng giành phần lớn hơn. Đây chính là thủ đoạn "không đánh mà thắng".

Thực tế, thương lượng với Myanmar năm 1960, Trung Quốc chiếm 131 km2, Myanmar giành lại được 85 km2; với Pakistan năm 1961, Trung Quốc chiếm 2.050 km2, Pakistan chỉ được 1.350 km2; với Nepal Trung Quốc đoạt một nửa ngọn Everest, Nepal chỉ còn một nửa.

Nếu nước bị vẽ lấn đất không chịu thương lượng, Trung Quốc sẽ dùng mọi biện pháp gây sức ép và khi có thời cơ sẽ dùng xung đột vũ trang đánh chiếm. Sau khi chuyện đã rồi, Trung Quốc mới bắt đầu ngồi vào bàn đàm phán buộc đối phương phải công nhận phần đất đó thuộc về Trung Quốc.

Đối với Việt Nam, Trung Quốc vẽ biên giới đường biển khoanh vùng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam vào lãnh thổ Trung Quốc và đòi Việt Nam phải thừa nhận. Tiếp đó, như đã biết, Trung Quốc dùng lực lượng vũ trang lấn chiếm từng bước một.

Ngoài ra, Trung Quốc còn dùng nhiều thủ đoạn xâm lấn từng khu vực nhỏ và luôn đòi Việt Nam phải chấp nhận "hiện trạng biên giới", tức là chấp nhận cho Trung Quốc xâm lấn dần, lấn được đến đâu là lãnh thổ Trung Quốc mở rộng đến đó.

Trung Quốc cũng áp dụng thủ đoạn này với các nước láng giềng khác kể cả Liên Xô, mặc dù giữa hai nước có những dòng sông lớn làm biên giới thiên nhiên.