Viêm amidan là chứng bệnh thường gặp nhất là với trẻ em thì tỷ lệ mắc bệnh này cao hơn rất nhiều so với người lớn , chúng ta cùng timg hiểu về những nguyên nhân đặc biệt là biến chứng của bệnh này như thế nào ?

Theo thống kê của nhiều tổ chức y tế trên thế giới, khoảng 75% bệnh nhân bị viêm amidan không được điều trị cũng có thể khỏi bệnh tự nhiên, BN sẽ hết sốt sau 3 ngày, các triệu chứng cơ năng khác sẽ giảm dần. Tuy nhiên, bệnh hay tái phát và có thể gây ra một số biến chứng nguy hiểm. Bệnh viêm amidan được chia thành 2 loại : cấp tính, mãn tính. Viêm amidan mãn tính có thể là biểu hiện của viên amidan cấp tính tái đi tái lại. Biến chứng tại chỗ của căn bệnh này là viêm tấy amidan, có áp-xe quanh amidan. Biến chứng kế cận sẽ viêm tai giữa, bệnh viêm mũi dị ứng và viêm thanh quản. Biến chứng xa có thể gây ra viêm cầu khẩn cấp. Đặc biệt, viêm amidan do liên cầu trùng có thể gây biến chứng sốt thấp khớp, thấp tim, viêm vi cầu thận, nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm độc tố liên cầu nhóm A sốt, hạ huyết áp, suy thận, suy hô hấp cấp gây tử vong rất nhanh.

Theo đông y : Bệnh do tà độc phong nhiệt theo miệng mũi xâm nhập vào phế hệ, tà độc đánh kết khô hầu hạch, làm mạch lạc bị ngăn trở, màng cơ bị thiêu đốt; hoặc ngoại tà ủng thịnh, thừa thế truyền vào lý, phế vị nhiệt thịnh, hỏa nhiệt bốc lên trên, đánh kết khô hầu hạch, màng cơ bị thiêu đốt; hoặc ăn nhiều thức ăn nướng chiên, uống quá nhiều rượu nóng, tỳ vị uẩn nhiệt, nhiệt độc công lên trên, đánh vào hầu hạch mà thành bệnh.

Cách chữa viêm amidan :

Hầu chứng hoàn 20 - 30 viên, nghiền thành bột trộn với rượu thành hồ, bôi vào hai bên họng, bên ngoài dán bằng cao giảm đau, ngày thay 1 lần.

Một lượng đăng long thảo sao cháy thành bột, trộn với rượu thành hồ, bôi ngoài họng.

Bột băng phiến hoặc bột thiếc thổi vào họng ngày 2 - 3 lần.

Kim ngân hoa, liên kiều mỗi thứ 20gr, sa tiên tử, bồ công anh mỗi thứ 30gr sắc lấy nước đặc dùng vải xô thấm vào thuốc nước, rồi ấp nguội phần trước cổ hoặc thấm trên mặt lưỡi.

Châm cứu chữa viêm amidan :

Châm tả các huyệt hợp cốc, nội đình, khúc trì là chủ huyệt, thiên đột, thiểu trạch, ngư tế là phối huyệt, mỗi lần chọn 3-4 huyệt, kích thích mạnh, ngày châm 1-2 lần.