Bài thuốc đông y chữa trị các bệnh về khớp

Bệnh khớp là một bệnh khá điển hình ở nước ta, với tỷ lệ rất cao ở người cao tuổi, hầu như ai khi về già cũng mắc một bệnh xương khớp nào đó như thoái hóa khớp, thoái hóa đốt sống cổ, viêm khớp, viêm đa khớp, vôi hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, sưng đau các khớp... khiến họ phải thường xuyên chữa trị, nếu không các cơn đau có thể làm hạn chế vận động, tạo ra những tổn thương nghiêm trọng cho cơ thể của mình.

Triệu chứng chung là đau mỏi vai gáy, đau mỏi các khớp, mưa lạnh, ẩm thấp thì đau tăng hoặc tái phát, bệnh mạn tính. Trên thực tế thì các nguyên nhân này tác động cùng một lúc nhưng không giống nhau, nếu chủ yếu do hàn thì gọi là thiên về hàn, thiên về phong hay thiên về thấp để phân loại ra các thể nhỏ như phong tý, hàn tý hay thấp tý.
Khi điều trị các bệnh về khớp như điều trị viêm da khớp, viêm khớp, thoát vị đĩa đệm hay thoái hóa khớp, gai cột sống... các phương pháp chữa đều nhằm lưu thông khí huyết ở cân xương; đưa tà khí (phong, hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài, bồi bổ khí huyết can thận để chống tái phát (ngay vệ khí cũng do thận sinh ra) và để chống lại các hiện tượng thoái hóa khớp, biến dạng khớp, teo cơ, cứng khớp nhằm hồi phục các chức năng bình thường của các khớp xương.

Phương pháp chung khi chữa các bệnh về khớp là khu phong tán hàn trừ thấp, căn cứ sự thiên lệch về phong, hàn hay thấp là chính. Khi chữa còn phân biệt mới mắc hay đã tái phát nhiều lần: nếu mới mắc thì lấy trừ tà là chính; Nếu mắc lâu ngày vừa phù chính (bổ cân thận khí huyết) vừa trừ tà để tránh tái phát và đề phòng những biến chứng và những cố tật sau này.

Trong đông y cũng có rất nhiều những bài thuốc chữa các bệnh về xương khớp như chua benh voi hoa cot song viêm đa khớp, thoái hóa khớp, viêm khớp, gai cột sống, thoát vị đĩa đệm... rất hiệu quả, đồng thời bồi bổ sức khỏe cho người bệnh rất tốt. Thuốc đông y điều trị sâu xa từ những nguyên nhân ban đầu của bệnh, giúp khí huyết lưu thông, cơ thể hoạt động được hoạt bát hơn.

Vị trí huyệt

Hợp cốc: Ở chỗ lồi nhất của cơ khi ngón tay cái và ngón tay trỏ kẹp sát nhau.

Phong môn: Ở cách mỏm gai D2 1,5 tấc về phía ngoài
.
Phong trì: Ở chỗ lõm cơ ức - đòn - chũm và phần trên cơ thang.

Huyết hải: Ở bờ trên xương bánh chè 2 tấc về phía trên, giữa chỗ phình của cơ rộng trong.

Túc tam lý: Ở dưới huyệt độc tỵ 3 tấc, cách mào chầy 1 khoát ngón tay về phía ngoài.

Cách du: Cách bờ dưới mỏm gai D7 1,5 tấc về phía ngoài.

Một số bài thuốc thường dùng:

Bài 1: Thổ phục linh 16g, ké đầu ngựa 16g, hy thiêm 16g, uy linh tiên 12g, rễ vòi voi 16g, quế chi 8g, bạch chỉ 8g, tỳ giải 12g, ý dĩ 12g, cam thảo nam 12g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Phòng phong thang gia giảm gồm: Phòng phong 12g, khương hoạt 12g, tần giao 8g, quế chi 8g, phục linh 8g, bạch thược 12g, đương quy 12g, cam thảo 6g, ma hoàng 8g. Sắc uống ngày một thang. Ngoài ra có thể kết hợp thêm châm cứu các huyệt sau:

Tại chỗ: châm các huyệt tại khớp sưng đau và vùng lân cận khớp đau.

Toàn thân: châm huyệt hợp cốc, phong môn, phong trì, huyết hải, túc tam lý, cách du.