Ở người trung niên và cao tuổi tỉ lệ mắc phải thoái hóa khớp là rất cao Trong đó cần nói đến trước tiên là đau khớp gốithoái hóa khớp háng hai khớp chịu lực chính cho sự di chuyển hàng ngày Việc điều trị bệnh đau khớp gối và các bệnh xương khớp khác rất khó khỏi hẳn do vậy ta cần tích cực phòng bệnh
Đặc điểm bệnh này là lớp sụn bao bọc đầu xương bị thoái hóa, bong giộp từng mảng, lộ phần xương ra. Lớp sụn khớp có chức năng như một lớp đệm giữa hai đầu xương. Khi nó bị hư hỏng thì hai đầu xương sẽ cọ xát nhau khi cử động. Hậu quả là các triệu chứng đau, sưng, hình thành gai xương và giới hạn cử động khớp. Sụn chêm cũng bị thoái hóa, mỏng, tưa và nham nhở do bị xơ hóa. Có những trường hợp nặng mất luôn cả sụn chêm.
X-quang khớp gối sẽ thấy khe khớp hẹp lại vì lớp sụn khớp đã bị mòn hay mất đi. Hình ảnh đầu xương thường bị loãng, đồng thời trục khớp bị lệch, biến dạng vẹo trong hay vẹo ngoài. Mặt khớp bị lồi lõm bất thường. Có những gai xương và sụn khớp rải rác hai bên và trong khớp. Tùy theo mức độ bệnh mà sẽ có những hình ảnh X-quang tương ứng.
Đau khớp gối là dấu hiệu than phiền chính yếu của bệnh nhân, đặc biệt khi đi đứng và khi ngồi xổm đứng dậy, khi ngồi nghỉ thì ít đau hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp lớp hoạt mạc bị viêm thì ngồi nghỉ cũng đau do phản ứng viêm khớp. Cơn đau cũng có thể lan dọc theo bờ trong xương chày. Nhiều bệnh nhân than phiền về cơn đau ở mặt trong gối, nơi bám của gân cơ chân, ấn vào đây khiến bệnh nhân đau chói. Nhiều bệnh nhân lấy tay chỉ đau ở mặt sau gối (khoeo). Họ mô tả cảm giác đau giống như bị rút gân. Điều này không lạ vì thoái hóa khớp gối có thể gây ra biến chứng co rút do mất cân bằng lực quanh khớp gối.
Gối bị co rút dần theo kiểu gối gấp nếu bệnh kéo dài. Người bệnh không thể duỗi uỡn thẳng gối được. Ta có thể đưa lọt bàn tay hay nắm tay qua dưới khoeo dù người bệnh đã duỗi gối hết sức.
Có những bệnh nhân không đau mà chỉ có sưng do viêm hoạt mạc làm tăng tiết dịch viêm vào khớp. Sưng gây cảm giác căng tức, khó chịu, đôi khi gây hạn chế tầm vận động của khớp gối, thường là động tác gấp gối (ngồi xổm).
Duỗi gối và gấp gối không hoàn toàn, đau nhức khi đi, biến dạng lệch gối là những nguyên nhân gây ra dáng đi khập khiễng của người bệnh. Khó khăn trong động tác ngồi xổm cũng ảnh hưởng nhiều cho người bệnh trong sinh hoạt hàng ngày.
Tóm lại ba triệu chứng chính khiến người bệnh thoái hóa khớp gối phải đi khám bệnh là đau khớp, sưng khớp và hạn chế cử động khớp gối.
Điều trị nội khoa
- Nghỉ ngơi được xem là một biện pháp điều trị hàng đầu. Nguyên tắc nghỉ ngơi là tránh làm những động tác tạo ra sự tì nén lên hai mặt sụn khớp đã bị hư hỏng. Ví dụ: đi bộ, mang xách nặng, ngồi xếp bằng, quỳ gối, chạy nhảy, ngồi xuống đứng lên, ngồi xổm…
- Đi lại có nạng hay gậy: biện pháp này giúp người bệnh giảm được tải trọng đè lên khớp gối khi đi đứng.
- Thuốc kháng viêm dạng uống hay chích giúp giảm đau hiệu quả. Tuy nhiên sự lạm dụng thuốc này sẽ dẫn đến nhiều tác dụng phụ tai hại, như đau dạ dày.
- Chích khớp như corticosteroid, hyaluronic acid.
- Nẹp nâng đỡ cho khớp gối.
- Thuốc điều trị sự phá hỏng mặt sụn khớp: glucosamine, chondroitin, methylsulfonyl-methane…
Điều trị phẫu thuật
Sau khi điều trị nội khoa, nếu tình trạng bệnh không cải thiện được nhiều thì các nhà chuyên môn sẽ chuyển sang điều trị bằng phẫu thuật:
- Mổ nội soi rửa sạch khớp.
- Cắt xương sửa trục trên lồi cầu xương đùi hoặc dưới mâm chày.
- Thay khớp gối bán phần.
- Tạo hình lại khớp chè đùi.
- Thay khớp gối toàn phần.
Tất cả những bệnh nhân bị thoái hóa khớp nặng đều có thể thay khớp gối nhân tạo. Mổ thay khớp gối toàn phần giúp giảm đau, phục hồi chức năng vận động của khớp gối, đạt được sự vững chắc cho khớp.
Tập luyện sau thay khớp gối nhân tạo
+ Sau khi thay khớp, người bệnh cần có thời gian để thích nghi với bộ khớp mới.
+ Người bệnh sẽ được tập co duỗi gối ngay sau khi mổ. Khi gối co được gần 90 độ, người bệnh cần phải tập đi (khung 4 chân), chạm nhẹ đất chân đau thường là trong 4 - 8 tuần sau mổ; sau đó, chuyển sang đi với 2 nạng trong 4 - 8 tuần nữa trước khi bỏ nạng hoàn toàn. Đối với những bệnh nhân khỏe mạnh, xương không bị xốp nhiều, thời gian dùng dụng cụ hỗ trợ có thể rút ngắn.
+ Quan trọng nhất là sự phục hồi cử động co và duỗi thẳng gối của bệnh nhân. Thường với khớp nhân tạo, bệnh nhân ít khi co được sát 140 độ, thường chỉ đạt được 120 độ. Khó nhất là tập duỗi thẳng gối, cần tích cực tập luyện.


Nguồn : đánh giá thuốc