1. Cậnthị

Cận thị là bất thường trong hệ thống quang học của con mắt làm cho mắt người ta nhìn các vật ở xa không được rõ trong khi những vật ở gần vẫn nhìn rõ được. Đáng tiếc là cận thị rất hay gặp, cả ở trẻ em và người lớn. Hiện nay trên thế giới có hơn 1 tỷ người có tật khúc xạ. Chỉ tính riêng ở Trung Quốc đã có hơn 300 triệu người bị cận thị.

Thế nào là cận thị ?
Cận thị là một trạng thái sai lệch chức năng của bộ máy thị giác, khi người ta nhìn rõ những vật ở gần, còn những vật ở xa thì không nhìn rõ. Có thể ví con mắt như một máy ảnh với ống kính là giác mạc và thể thuỷ tinh : cho ánh sáng đi qua và làm đổi hướng để các tia sáng hội tụ trên võng mạc. Còn võng mạc có thể so sánh với phim để chụp ảnh. Trên võng mạc có các tế bào cảm thụ ánh sáng và chuyển tín hiệu ánh sáng thành các xung thần kinh để đi qua các dây thần kinh thị giác tới não. Hình ảnh các vật sẽ rõ nét nếu giác mạc và thể thuỷ tinh điều chỉnh được chính xác các tia sáng song song để chúng hội tụ trên võng mạc. Chính vì vậy mà những người khoẻ mạnh nhìn rõ các vật ở xa. Khi bị cận thị, các tia sáng hội tụ ở phía trước võng mạc và kết quả là hình ảnh của vật được nhìn thấy không rõ nét. Hiện tượng này có thể xảy ra do 2 nguyên nhân là :

  1. Giác mạc và thể thuỷ tinh làm khúc xạ ánh sáng quá mạnh.
  2. Trục nhãn cầu của người bệnh dài hơn bình thường nên võng mạc bị đẩy lùi ra xa hơn tiêu điểm. Bình thường, trục nhãn cầu dài khoảng 23 mm. Ở những người cận thị,số đo này có thể là 30 mm hoặc hơn. Khi trục nhãn cầu dài hơn mỗi mi li métsẽ làm cho số cận thị tăng thêm 3 D.

Vì sao người ta bị cận thị ?
Có nhiều nguyên nhân gây cận thị. Những nguyên nhân chính có thể kể đến là :
– Đọc sách hoặc làm việc phải dùng mắt nhìn chăm chú thời gian dài ở khoảng cách gần, trong điều kiện ánh sáng kém.
– Yếu tố di truyền, do một số đặc điểm cấu trúc nhãn cầu hoặc khác biệt về trao đổi chất trong cơ thể.
– Củng mạc yếu do cấu trúc đặc biệt của các sợi mô liên kết của bệnh nhân nên không giữ được thành nhãn cầu ổn định.
– Do cơ thể mi kém phát triển, không đủ khả năng điều tiết để làm cho con mắt thích ứng với các cự ly nhìn khác nhau. Cơ thể mi yếu phải gắng sức thường xuyên sẽ làm tăng nguy cơ bị cận thị.

Các triệu chứng cận thị
Bình thường, cận thị xảy ra khi trẻ còn nhỏ và dễ dàng nhận thấy ở tuổi đến trường. Trẻ nhìn kém những vật ở xa, không phân biệt được chữ,số trên bảng và phải cố gắng đến gần TV hoặc ngồi ghế đầu trong rạp chiếu phim. Khi cần nhìn rõ các vật có thể thấy những người cận thị hay nheo mắt. Ngoài thị lực nhìn xa giảm, những người bị cận thị còn nhìn kém lúc sẩm tối nên buổi chiều tối họ đi lại trên phố cũng như lái ô tô kém hơn. Để nhìn tốt hơn, người bị cận thị phải đeo kính tiếp xúc hoặc đeo kính cận. Đôi khi họ phải thay mắt kính. Cần biết rằng đeo kính không giúp làm ngừng cận thị tiến triển mà chỉ điều chỉnh được số kính. Nếu thị lực giảm, thường cần đổi bằng số kính cao hơn do tăng độ cận, khi nhãn cầu giãn, trục nhãn cầu trở nên dài hơn.

Cận thị tiệm tiến
Đây không phải là một lỗi khúc xạ khôngđơn thuần, có thể điều chỉnh bằng cách đeo kính mà là một bệnh có thể gây những biến chứng nguy hiểm. Trẻ em từ 7 đến 15 tuổi hay bị bệnh này. Do thành nhãn cầu bị giãn, các mạch máu trong mắt cũng bị kéo dài làm rối loạn dinh dưỡng võng mạc và giảm thị lực. Khi bị giãn ra, võng mạc như chiếc khăn voan mỏng bị kéo giãn sẽ bị rách từng lỗ nhỏ và kết quả là bị bong võng mạc. Đây là biến chứng nguy hiểm nhất của bệnh cận thị tiệm tiến. Thị lực có thể giảm đến mức gây mù. Xin nhớ rằng việc đến khám chuyên khoa mắt kịp thời sẽ giúp Bạn phòng ngừa được những biến chứng nguy hiểm và bảo toàn được chức năng thị giác cho đôi mắt !

Chẩn đoán bệnh
Chỉ những bác sĩ chuyên khoa mới có thể xác định được chính xác mức độ cận thị và chọn phương pháp điều trị phù hợp nhất.
Để chẩn đoán các trường hợp cận thị, cần thực hiện các khám nghiệm như sau :

  • Đo thị lực nhìn xa không kính, chọn loại kính thích hợp nếu cần.
  • Đo khúc xạ, xác định mức độ cận thị.
  • Đo trục nhãn cầu bằng siêu âm. Đây là một khám nghiệm không đau, rất chính xác và giúp chẩn đoán mắt có bị cận thị tiến triển hay không.
  • Đo độ dày giác mạc bằng siêu âm nếu có kế hoạch mổ điều chỉnh tật khúc xạ.
  • Soi đáy mắt để đánh giá tình trạng võng mạc, mạch máu và thần kinh thị giác của từng mắt một.

Đây là quy trình khám chuẩn đối với những bệnh nhân cận thị nhưng để điều trị bệnh cần có cách phù hợp cho từng bệnh nhân. Trong trường hợp cụ thể, bác sĩ có thể chỉ định những khám nghiệm bổ sung.

Điều trị

Việc điều trị cận thị nhằm đạt được những mục tiêu sau :

  • Ngăn chặn bệnh phát triển
  • Đề phòng biến chứng của bệnh
  • Điều chỉnh trạng thái khúc xạ của mắt để bệnh nhân không phải đeo kính.


Các chuyên gia của Viện Mắt Fyodorov đã sáng chế và ứng dụng thành công các phương pháp chữa cận thị khác nhau như tạo hình củng mạc, tạo hình bằng colagen, rạch giác mạc hình nan hoa, bào mòn giác mạc bằng la-de excimer, đặt thấu kính nội nhãn.