Hầu hết các bệnh nhân thoát vị đĩa đệm có thể chữa khỏi bệnh bằng các phương pháp bảo tồn. Phẫu thuật đặt ra trong trường hợp nhiều đĩa đệm bị thoát vị chèn ép lên các rễ thần kinh và tủy sống, đau dẫn đến liệt chi hoặc điều trị nội khoa quá 6 tháng mà không có kết quả.
>>> Xem thêm: khí hư màu xanh
Các biện pháp can thiệp ngoại khoa trong phẫu thuật thoát vị đĩa đệm gồm có:
- Mổ hở: Đối với một số trường hợp tổn thương mổ hở là cần thiết. Mổ thoát vị đĩa đệm dạng này xuất hiện từ lâu đời và là hình thức mổ tiết kiệm chi phí nhất. Tuy nhiên biến chứng sau mổ hở khá nhiều: nhiễm trùng, đau sau mổ, viêm vùng mổ, dính rễ thần kinh, thậm chí liệt hoặc tử vong.
Tiêu hủy nhân nhầy bằng men chymopapain: loại men này có tác dụng phân hủy các đại phân tử proteoglycan và glycoprotein là thành phần chính của nhân nhầy đĩa đệm. Bên cạnh đó chúng cũng giúp kháng viêm ở rễ thần kinh. Mặc dù vị trí can thiếp rất nhỏ song vẫn có những biến chứng có thể gây nguy cơ tử vong do sốc phản vệ vì dị ứng với men tiêu nhân nhầy.
- Mổ nội soi đĩa đệm: Đây là phương pháp tiên tiến được ứng dụng khá nhiều. Chúng có ưu điểm tỉ lệ nhiễm trùng thấp hơn, bệnh nhân nhanh hồi phục hơn so với mổ hở nhưng không phải chúng không có những biến chứng.
- Kỹ thuật giảm áp đĩa đệm bằng laser qua da: dùng năng lượng laser làm giảm áp suất nội đĩa đệm, khiến chúng không thể chèn ép lên rễ thần kinh ở vị trí thoát vị được. Tai biến có thể gặp khi thực hiện kĩ thuật này là: viêm đĩa đệm vô trùng hay hữu trùng, liệt dây thần kinh với tỷ lệ thấp.
Lời khuyên cho bệnh nhân sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm
Việc phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cần được xem xét một cách kĩ lưỡng trước khi quyết định, chi phí cho một ca phẫu thuật là khá lớn với nguồn thu nhập trung bình của dân số Việt Nam, vì vậy, sau phẫu thuật, bạn nên tuân thủ những lời khuyên sau để đảm bảo hiệu quả phẫu thuật là cao nhất: