Lúc có lạc nội mạc tử cung có thai được không
Lạc nội mạc dạ con (LNMTC) là căn bệnh liên quan tới sự góp mặt của những tuyến nội mạc tử cung (NMTC) và mô đệm tại bên ngoài dạ con (TC). Sự có mặt này gây ra tình trạng nhiễm trùng mạn tính, phát triển hay thoái triển theo chu kỳ ngày đèn đỏ hay chịu tác dụng của nội tiết tố sinh dục. những tế bào NMTC nguy cơ cấy ghép trên buồng trứng, ống dẫn trứng, bề mặt ngoài TC hay ruột, ít nhất bề mặt khoang xương chậu, cô bé, CTC, bàng quang, cặp Khi còn hay gặp tại gan, sẹo mổ cũ, phổi, não…
[img]http://chuaphukhoa.net/wp-content/uploads/2016/03/canh-bao-u-nang-buong-trung-dang-lac-noi-mac-tu-cung1.jpg[/img]
Dễ thực hiện, là chọn cơ bản để chẩn đoán, cho hình ảnh điển hình của u LNMBT. Là cụm echo kém, thành trơn láng, chứa dịch dạng vân mây. một số nang lâu ngày có khả năng [url=http://chualacnoimactucung.blogspot.com/2016/03/hoi-sieu-am-co-phat-hien-lac-noi-mac-tu-cung-khong.html][u]hình ảnh lạc nội mạc tử cung[/u][/url] có hình dạng thay đổi, thành nang nguy cơ mang góc cạnh bởi PM mắc bị, co kéo, thành nang trở cần dày, echo đặc.
Cho lên nay vẫn chưa thống nhất về cơ chế sinh bệnh lý của LNMTC. có những giả thuyết như:
- Kinh ngược dòng: các mô NMTC chảy ngược trở vào ống dẫn trứng và khoang chậu Bên trong mỗi lần hành kinh.
- Thuyết chuyển sản: các bộ phận khu vực chậu với các tế bào nguyên thủy có nguy cơ tiến triển thành một vài dạng mô khác nhau như TBNMTC
- Thuyết cấy ghép: những tế bào NMTC có nguy cơ dính cấy ghép Bên trong quá trình phẫu thuật như vết may TSM, sẹo mổ lấy em bé.
- Sự di chuyển của tế bào NMTC theo dòng máu và hệ thống bạch huyết có nguy cơ lý giải cho một vài Nguồn gốc hiếm thường gặp của LNMTC khoảng não hoặc những bộ phận khác ngoài khu vực chậu.
5-10% đàn bà Ở trong lớn nhỏ đẻ con. ở Mỹ, LNMTC ước tính khoảng 3%-18%, là 1 Bên trong một số Tác nhân hằng đầu của đau khu vực chậu và Nguồn gốc nên tiểu phẫu nội soi và cắt tử cung tại đất nước này. với khoảng 20-50% thiếu nữ hiếm muộn vì LNMTC hoặc 80% bị đau khu vực chậu mãn tính.
Yếu tố nguy cơ:
- kinh phí sử gia đình với người mắc bệnh LNMTC.
- phổ biến tại thiếu nữ da trắng hơn da vàng hay da đen.
- thiếu nữ mang chỉ số BMI thấp (gầy, cao)
- Cấu trúc con đường sinh dục thất thường hay tắc nghẽn hành kinh
- Chưa sinh đẻ, hiếm muộn, quá í sinh con có khả năng cao hơn sinh nhiều.
một.Cơ năng: người bệnh khả năng đi xét nghiệm tại đau và hiếm muộn. tuy nhiên với các trường hợp LNMTC ko biểu hiện cơ năng ngay cả Lúc có một nang LNMTC khá to.
- Đau: người mắc bệnh mang thống kinh, đau trằn vùng hạ vị hoặc sinh hoạt tình dục đau. cấp độ đau Bên trong LNMTC không tương xứng với thể tích khối u mà liên quan với giai đoạn xâm nhiễm của tác hại vô cùng đồ, vách "vùng kín" trực tràng..
- hiện tượng tiêu hóa: thường hay mơ hồ, nguy cơ chán nản nôn, ói, chướng bụng, rất khó tiêu. Đau Khi đi tiêu nguy cơ gợi ý tổn thương LNMTC tại vách trực tràng âm đạo và tại cùng đồ Douglas. đi cầu chảy máu có thể gợi ý nguy hiểm ruột
- biểu hiện tiết niệu: # 1%, đau Khi đại tiện 25%, cặp Khi có tiểu tiện máu vô giai đoạn hành kinh.
- triệu chứng khác: ho ra máu Ở trong LNMTC tại phổi. một vài bộ phận khác hiếm bắt gặp hơn như gan, cơ hoành, tứ chi, cột sống, não…
2.Thực thể: khám lâm sàng rất quan trọng để chuẩn đoán hoặc đánh giá hậu quả LNMTC. tuy nhiên một số tổn hại thời kì nhẹ hay trên PM rất khó đánh khoản được trên ban đầu. Tùy vị trí tác hại có khả năng ghi nhận:
- Âm hộ: vết may TSM là vị trí có thể gặp của LNMTC.
- CTC: mắc lệch, di động yếu, đau và sở hữu nốt LNMTC. Màu xanh tím, đau và to ra Lúc hành kinh.
- Dây chằng TC cùng: căng, với nốt LNMTC, đau Lúc khám.
- TC Kích thước bình thường hay [url=http://chualacnoimactucung.blogspot.com/2016/03/tim-hieu-benh-polyp-long-tu-cung-la-gi-vay.html][u]polyp trong lòng tử cung[/u][/url] hay to hơn Trong trường hợp adenomyosis. TC khả năng ngã sau một, di động kém.
- hai phần phụ nguy cơ sờ nhìn ra khóm u Ở trong ca với nang LNMTC, di động yếu.
- Cùng đồ trống, hay nề, sở hữu khối u.
- Vách trực tràng- "vùng kín" nề, đau Khi mang có hại xâm lấn, nhận ra bằng kiểm tra đối với 1 ngón tay ở cô bé và một ngón tay tại trực tràng.