Suckhoedoisong.vn - Theo thời gian, quá trình lão hóa sẽ xảy ra trong cơ thể làm biến đổi chức năng hoạt động của các cơ quan, tổ chức, bộ máy cần thiết giúp duy trì sự sống nên một số bệnh lý có thể xảy ra, trong đó hệ tim mạch cũng bị ảnh hưởng.
Sự lão hóa của hệ tim mạch
Sự lão hóa hay già hóa hệ tim mạch ở người cao tuổi thường được ghi nhận từ những biến đổi ở tim, mạch máu, thành phần sinh hóa của máu và huyết áp...

Biến đổi ở tim: thực tế nếu người cao tuổi không có bệnh lý gì kèm theo thì khối lượng nặng của cơ tim thường giảm đi theo tuổi tác, hệ tuần hoàn nuôi tim cũng giảm hiệu lực làm ảnh hưởng đến sự dinh dưỡng của cơ tim. Trên lâm sàng, sự biến đổi ở tim trái rõ hơn tim phải.

Nhịp tim thường chậm hơn lúc còn trẻ do giảm tính linh hoạt của xoang tim. Khi tuổi càng tăng cao, sẽ có suy giảm tim tiềm tàng, giảm dẫn truyền trong tim; lượng máu cung cấp cho các cơ quan, đặc biệt là cho tim và não bị gảm dần.

Biến đổi ở mạch máu: ở người cao tuổi thường thấy các động mạch nhỏ ngoại biên có đường kính hẹp lại, làm giảm lượng máu cung cấp cho các mô tế bào, làm tăng sức cản, hậu quả là tim phải tăng sức bóp nên bị tiêu hao nhiều năng lượng hơn, thường phải tăng đến khoảng 20% so với lúc còn trẻ. Tình trạng xơ cứng động mạch chủ cũng rất phổ biến.

Xem thêm bột đông trùng hạ thảo hàn quốc

Tĩnh mạch giảm trương lực và độ đàn hồi do đó dễ giãn ra. Sự tuần hoàn mao mạch giảm hiệu lực do mất một số mao mạch, đồng thời tính phản ứng bù trừ của số mao mạch còn lại cũng giảm đi.

Những biến đổi hệ tim mạch

Biến đổi về thành phần sinh hóa của máu: sự biến đổi này có liên quan đến biến đổi ở hệ timmạch. Khi tuổi đã cao, nhóm bêta lipoprotein tăng, đồng thời nhóm alpha lipoprotein giảm.

Tai biến mạch máu não: còn gọi là cơn đột quỵ xảy ra khi nguồn cung cấp máu cho một phần của não bộ bị gián đoạn hoặc suy giảm nghiêm trọng, làm thiếu hụt oxy cung cấp và dinh dưỡng mô tế bào não; chỉ trong vòng vài phút các tế bào não sẽ bắt đầu chết.

Tai biến mạch máu não phải được xử trí cấp cứu, việc điều trị sớm rất quan trọng vì can thiệp kịp thời có thể giảm thiểu tổn thương não và các biến chứng tiềm tàng. Bệnh lý này có thể ngăn ngừa được nhờ biện pháp kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ gây nên đột quỵ như: cao huyết áp, hút thuốc lá, cholesterol cao...

Xem thêm Vien hong sam han quoc

Tình trạng tăng áp lực phổi luôn luôn đi trước bệnh tâm phế mạn trong đó có suy tim phải.

Triệu chứng vào giai đoạn đầu được ghi nhận là triệu chứng lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gồm viêm phế quản mạn tính, khí phế thũng do thuốc lá, hen phế quản kéo dài trong đó sự phục hồi phế quản kém, giãn phế quản thường xảy ra những đợt khởi phát cấp tính, sau mỗi đợt khởi phát bệnh lại nặng thêm; những bệnh phổi hạn chế gồm lao xơ phổi, giãn phế nang, mập phì, gù vẹo cột sống, dị dạng lồng ngực, bệnh xơ phổi lan tỏa, dày dính màng phổi, bệnh mạch phổi.

Sau đó chuyển sang giai đoạn tăng áp lực động mạch phổi và giai đoạn suy tim phải.

Rối loạn nhịp tim và dẫn truyền: xảy ra khi các xung điện trong tim, dẫn truyền tạo nhịp tim không hoạt động đúng làm tim đập quá nhanh, quá chậm hoặc đột ngột.

Rối loạn nhịp tim thường có nhịp tim đập không đều và cảm thấy trống ngực, tuy nhiên cũng có trường hợp gây khó chịu, thậm chí đe dọa đến tính mạng, gây ra dấu hiệu và triệu chứng bệnh lý.

Triệu chứng lâm sàng thường gặp là rung động trong lồng ngực, nhịp tim nhanh hoặc chậm, đau ngực, khó thở, hoa mắt, chóng mặt, ngất xỉu. Lưu ý trường hợp rung thất là một loại rối loạn nhịp tim gây chết người xảy ra khi tim đập nhanh, xung điện dẫn truyền thất thường.

Suy tim: đây là trạng thái bệnh lý do cơ tim mất khả năng cung cấp máu theo nhu cầu của cơ thể, lúc đầu thường xảy ra khi gắng sức rồi sau đó có thể gặp cả khi nghỉ ngơi.

Quan niệm này đúng cho đa số các trường hợp, nhưng chưa giải thích được những trường hợp suy tim có cung lượng tim cao và cả trong giai đoạn đầu của suy tim mà cung lượng tim còn bình thường.

Ở giai đoạn đầu của suy tim, người bệnh thường không có biểu hiện bệnh lý nhưng khi tình trạng suy tim đã tiến triển thì một số dấu hiệu có thể xuất hiện như: hụt hơi, khó thở; ban đầu người bệnh chỉ khó thở nhẹ mỗi khi gắng sức nhưng về sau khó thở xảy ra cả khi nghỉ ngơi khiến người bệnh ngủ không ngon giấc, thậm chí mất ngủ. Mệt mỏi và cảm giác như bị suy nhược cơ thể.

Tức nặng ngực như có vật đè nén, ép chặt vào ngực. Ho khan bởi máu bị ứ lại tại phổi. Hoa mắt, chóng mặt, có thể ngất xỉu khi tim hoạt động không hiệu quả.

Nhịp tim nhanh, hồi hộp, trống ngực ngay cả khi nghỉ ngơi. Phù và tăng cân do suy tim khiến máu trong cơ thể lưu thông kém và giảm đào thải dịch qua thận, gây tích tụ nước dẫn tới phù, rõ nhất là ở mắt cá chân, bàn chân. Ngoài ra, người bệnh suy tim còn có thể có các triệu chứng đi tiểu đêm, đầy hơi, buồn nôn hoặc chán ăn…

Tắc nghẽn động mạch: tình trạng tắc nghẹn động mạch trở thành bệnh lý khi xuất hiện các mảng bám tích tụ ở bên trong thành động mạch.

Các mảng bám này được hình thành từ một số chất lưu thông trong máu gồm chất béo, cholesterol, chất thải của các tế bào, calci và fibrin là một chất có liên quan đến vấn đề đông máu.

Những mảng bám sẽ làm hẹp hoặc làm tắc nghẽn các động mạch dẫn đến tình trạng lưu thông máu đi đến các bộ phận của cơ thể gặp khó khăn.

Những vị trí thường tắc nghẽn phổ biến nhất của động mạch là ở tim, não, cánh tay và chân, thận, khung xương chậu và vùng bụng.

Triệu chứng bệnh lý phụ thuộc vào vị trí của các mảng bám vào động mạch bị tích tụ tương ứng; thường gặp phổ biến ở động mạch vành, động mạch ngoại biên và động mạch cảnh. Bệnh động mạch vành xuất hiện khi các mảng bám tích tụ bên trong những động mạch có chức năng vận chuyển máu đến tim gây các cơn đau tim; bệnh có một số triệu chứng thường gặp như đau thắt ngực, thở ngắn, chóng mặt, cơ thể suy yếu, đổ mồ hôi nhiều, buồn nôn và tim đập nhanh.

Bệnh động mạch ngoại biên xảy ra khi có tình trạng tắc nghẽn những động mạch có chức năng vận chuyển máu đến phần chân phía dưới và những nơi xa nhất của cơ thể; các triệu chứng thường gặp là đau chân, tê cóng ở ngón chân và bàn chân, lạnh chân, chân khó lành khỏi khi có vết thương.

Bệnh động mạch cảnh xảy ra do các động mạch có chức năng cung cấp oxy lên não bị tắc nghẽn dẫn đến nguy cơ đột quỵ; những triệu chứng thường gặp là tê cứng hoặc suy yếu cảm giác ở một bên cơ thể, mất thị lực ở một bên mắt hay không có khả năng di chuyển một cánh tay hoặc một chân.

Lời khuyên của thầy thuốc

Cao tuổi không phải là bệnh lý nhưng người tuổi đã cao sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các bệnh lý phát sinh và phát triển do sự biến đổi chức năng các bộ phận của cơ thể theo thời gian, trong đó có tình trạng lão hóa hệ tim mạch.

Chính sự biến đổi này đã dẫn đến những bệnh lý tim mạch thường gặp đã nêu ở trên. Vì vậy khi có dấu hiệu bệnh lý, người cao tuổi cần đến cơ sở y tế để được khám, chẩn đoán, xử trí can thiệp điều trị kịp thời và phù hợp; không được chủ quan vì có thể ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe kể cả tính mạng của chính bản thân mình.

BS. NGUYỄN TRÂM ANH